Lạm phát là gì? Lạm phát tác động đến thị trường ngoại hối như thế nào?

img
Kevin Phạm
CEO ICATGROUP
PROFILE

Lạm phát là một trong những chỉ số quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia. Bên cạnh phản ánh được sức khỏe của nền kinh tế thì lạm phát còn cho biết những khó khăn, thuận lợi của các chủ thể tham gia vào nền kinh tế đó như các ngân hàng, doanh nghiệp và cả nhà đầu tư.

Vậy, lạm phát là gì? Những nguyên nhân nào gây ra lạm phát? Lạm phát ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế, đến nhà đầu tư?… chúng ta sẽ cùng tìm hiểu tất cả những vấn đề đó trong bài viết này.

Lạm phát là gì?

Lạm phát (inflation) là tình trạng mức giá chung của các loại hàng hóa, dịch vụ tăng lên cao hơn so với một mốc thời gian trong quá khứ. Mốc thời gian này thường là 1 năm hoặc ngắn hơn. Khi mức giá chung tăng lên thì, với cùng một lượng tiền tệ, người tiêu dùng sẽ mua được ít hàng hóa hơn so với trước đó.

lamphat icattraining

Vậy thì, lạm phát chính là chỉ số kinh tế phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ của một quốc gia. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát được hiểu là sự suy giảm giá trị của đồng nội tệ so với tiền tệ của các quốc gia khác, nói cách khác thì đó chính là sự phá giá đồng nội tệ so với ngoại tệ.

Ví dụ về lạm phát: Các bạn có thể hình dung về tình trạng lạm phát như sau: với 10 nghìn VND, nếu năm ngoái, bạn mua được 1 ổ bánh mì thì năm nay, bạn chỉ mua được 2/3 ổ. Hay năm ngoái, với 10 nghìn VND, bạn đã có thể mua được một ổ bánh mì, năm nay, để mua được cũng ổ bánh mì đó, bạn phải trả 16 nghìn.

Phân loại lạm phát theo tính chất:

  • Lạm phát dự kiến: là dự đoán về sự tăng giá trong tương lai của nhà nước, người dân của một quốc gia dựa vào lạm phát trong quá khứ. Loại lạm phát này không ảnh hưởng quá lớn đến nền kinh tế vì đã nằm trong dự tính.
  • Lạm phát không dự kiến: do các tác nhân từ bên ngoài và bên trong nền kinh tế mà giá cả bị đẩy lên quá cao, bất ngờ và không thể kiểm soát được.

Các mức độ của lạm phát

Lạm phát có 3 mức độ

  • Lạm phát tự nhiên hay còn gọi là lạm phát một con số: từ 0% đến dưới 10%

Với mức độ lạm phát tự nhiên, mức giá chung của hàng hóa, dịch vụ tăng khá chậm, ổn định và có thể dự đoán được. Nền kinh tế nói chung là bình thường, lãi suất tiền gửi trung bình, đời sống ổn định. Ví dụ: nền kinh tế Mỹ lấy tỷ lệ 2% làm mức lạm phát mục tiêu và các chính sách của FED sẽ luôn hướng đến mục tiêu này. Với tỷ lệ lạm phát mục tiêu 2%, mỗi năm, mức giá chung tại Mỹ sẽ tăng lên 2%. Năm nay, người Mỹ dùng 10$ để mua được một bánh pizza thì qua năm tới, họ sẽ phải dùng đến 10.2$ để mua được cũng cái pizza đó.

Các nước phát triển và đang phát triển là các quốc gia có khả năng duy trì được mức độ lạm phát tự nhiên này. Một số quốc gia có lạm phát tự nhiên có thể kể đến như Mỹ, Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản, Việt Nam… Đây là mức độ lạm phát mà tất cả các quốc gia đều muốn hướng đến.

  • Lạm phát phi mã, còn gọi là lạm phát 2 hoặc 3 con số: từ 10% đến dưới 1,000%

Giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao với tốc độ nhanh, thị trường tài chính trở nên bất ổn. Lúc này, người dân bắt đầu lo tích trữ hàng hóa, lãi suất vay sẽ cao hơn bình thường. Đồng tiền của quốc gia bị mất giá nghiêm trọng và dẫn đến nhiều hệ lụy đối với nền kinh tế.

Một số quốc gia có lạm phát phi mã như Venezuela, Ukraina, Syria, Sudan, Iran, Mông Cổ…

  • Siêu lạm phát: từ 1,000% trở lên

Là hiện tượng giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng lên quá mức, nhanh chóng và không thể kiểm soát được, phá hoại trậm trọng nền kinh tế. Trong khi lạm phát tự nhiên đo lường mỗi năm thì siêu lạm phát có thể khiến cho giá cả tăng lên từ 5% đến 10% mỗi ngày. Nguyên nhân chủ yếu gây siêu lạm phát tại các quốc gia là do chiến tranh hoặc sự bất ổn nghiêm trọng trong nền kinh tế.

Các quốc gia đã từng trải qua hiện tượng siêu lạm phát có thể kể đến như Đức, Venezuela, Zimbabwe và Hungary.

Ở Đức, siêu lạm phát xảy ra ngay sau thế chiến thứ nhất, quốc gia này đã đi vay một lượng tiền rất lớn để phục vụ cho chiến tranh với niềm tin rằng sẽ chiến thắng. Tuy nhiên, không những để thua phe Đồng Minh mà Đức còn phải trả nợ hàng tỷ đô la. Siêu lạm phát ở Đức do nhiều nguyên nhân nhưng gây tranh cãi nhất là sự sụp đổ của chế độ bản vị vàng. Quyết định chấm dứt chế độ bản vị vàng của Đức trước khi chiến tranh xảy ra đã khiến cho đồng Mác Đức bị sụt giá nghiêm trọng. Phe Đồng Minh đã yêu cầu Đức bồi thường chiến phí bằng bất cứ loại tiền tệ nào ngoài đồng Mác Đức, điều này khiến Đức đã phải in ra một lượng lớn tiền giấy để mua ngoại tệ trả cho phe Đồng Minh, kết quả là đồng Mác Đức càng rớt giá nghiêm trọng. Ở thời kỳ siêu lạm phát tại Đức, giá cả tăng lên hơn 20% một ngày, đồng tiền của Đức trở nên vô giá trị, thậm chí người ta còn dùng tiền thay củi để đốt.

Venezuela: tình trạng siêu lạm phát ở Venezuela xảy ra bắt đầu từ năm 2016 và kéo dài đến 2019. Một trong những nguyên nhân gây siêu lạm phát ở quốc gia này chính là do sự yếu kém trong khâu quản lý và tham nhũng. Cuối năm 2016, tỷ lệ lạm phát ở Venezuela là 800%, năm 2017 là 4,000% và năm 2019 là 2,600,000%.

Zimbabwe: thời kỳ siêu lạm phát tại quốc gia này xảy ra từ năm 2000, đỉnh điểm vào tháng 7/2008 với tỷ lệ lạm phát trên 230 triệu %.

Hungary: được cho là đất nước có đợt siêu lạm phát tồi tệ nhất thế giới, 1945 – 1946, khi mà giá cả mỗi ngày tăng hơn 200%. Nguyên nhân chủ yếu khiến đất nước này rơi vào trình trạng siêu lạm phát như vậy là do sự ngây thơ của bộ máy chính quyền với những đợt in tiền liên tục.

Nguyên nhân gây ra lạm phát

Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát ở một quốc gia và mỗi trường phái kinh tế sẽ có những lập luận về các nguyên nhân khác nhau. Đối với các nhà phân tích theo trường phái kinh tế học Keynes, lạm phát xảy ra chủ yếu đến từ chính các áp lực của nền kinh tế. Ngược lại, những người đi theo quan điểm chủ nghĩa tiền tệ thì cho rằng, các chính sách tăng hoặc giảm cung tiền chính là nguyên nhân gây ra lạm phát/giảm phát.

Lạm phát do cầu kéo (Demand-pull inflation)

Tức là cầu lớn hơn cung → giá tăng lên → lạm phát.

Cầu kéo là hiện tượng mất cân bằng mối quan hệ cung-cầu, với lượng cầu tăng lên do nhu cầu về một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó tăng lên, khiến các doanh nghiệp phải tăng giá hàng hóa, dịch vụ đó. Điều này kéo theo giá cả của hàng loạt các hàng hóa, dịch vụ khác cũng tăng theo 🡪 lạm phát xảy ra.

Ví dụ: nhu cầu đi lại ngày càng tăng lên, giá xăng dầu tăng lên, kéo theo giá dịch vụ vận chuyển tăng lên. Các mặt hàng khác cũng tăng giá theo như điện tăng, gạo tăng, thịt heo tăng…

Có 4 nguyên nhân khiến gây ra lạm phát do cầu kéo.

  • Thứ nhất là sự lạc quan của người dân vào nền kinh tế. Điều này kích thích họ mua hàng nhiều hơn, nhu cầu tăng lên, đẩy giá sản phẩm tăng lên.
  • Thứ hai, do chính phủ tăng chi tiêu bất thường, khi chính phủ mở rộng túi tiền của mình, khiến cho một lượng cầu tăng lên đáng kể, kết quả là giá tăng lên.
  • Thứ 3, xuất khẩu tăng đột ngột, khi xuất khẩu tăng, lượng hàng hóa được gom lại để xuất khẩu gia tăng, khiến cho hàng hóa lưu thông trong nước ít lại, cung thấp hơn cầu → giá tăng.
  • Thứ 4, do tăng cung tiền tệ. Khi chính phủ chi tiêu quá mức và được tài trợ bằng cách in tiền sẽ dẫn đến lạm phát. Hoặc khi ngân hàng trung ương thu mua ngoại tệ từ công chúng để giữ cho nội tệ không bị mất giá sẽ khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên → lạm phát.

Lạm phát do chi phí đẩy (Cost-push inflation)

Khi tổng chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên, bắt buộc họ phải tăng giá thành hàng hóa, dịch vụ để đảm bảo lợi nhuận. Từ đó, kéo theo các mặt hàng khác cũng tăng giá theo, mức giá chung của nền kinh tế tăng 🡪 lạm phát.

Một trong những chi phí có khả năng gia tăng gây ra lạm phát chính là chi phí nguyên vật liệu đầu vào. Ở Việt Nam, các doanh nghiệp thường nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào từ nước ngoài, một khi giá cả ở nước ngoài tăng sẽ kéo theo giá cả trong nước tăng 🡪 lạm phát. Hiện tượng này được gọi là “nhập khẩu lạm phát”.

Bên cạnh đó, năng lực sản xuất yếu kém của doanh nghiệp cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát. Khi sản xuất kém hiệu quả, cộng với áp lực từ việc tăng tiền lương cho công nhân, doanh nghiệp phải tăng giá thành để đảm bảo lợi nhuận → phát sinh lạm phát.

Lạm phát do chi phí đẩy còn xuất phát từ các nguyên nhân như chính phủ tăng thuế đánh vào sản xuất hoặc thiên tai, dịch bệnh khiến cho các loại chi phí bị đẩy lên cao → giá hàng hóa tăng → lạm phát.

Các chỉ số đo lường lạm phát

Trên thế giới, mỗi nền kinh tế sẽ có những cách thức đo lường lạm phát khác nhau, nhưng có 2 chỉ số cơ bản và được áp dụng rộng rãi nhất chính là CPI (Chỉ số giá tiêu dùng) và GDP Deflator (Chỉ số điều chỉnh GDP)

  • CPI: là chỉ số đo lường mức giá chung của một rổ hàng hóa, dịch vụ cố định sử dụng cho mục đích tiêu dùng của một người tiêu dùng điển hình.

CPI chỉ tính các hàng hóa, dịch vụ được sử dụng bởi hộ gia đình, tính luôn các hàng hóa nhập khẩu và có thể được đo lường hàng tháng.

  • GDP Deflator thì biểu hiện sự biến động mức giá chung của tất cả hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra trong lãnh thổ của một quốc gia, là chỉ số so sánh giữa GDP thực tế và GDP danh nghĩa.

GDP Deflator tính cả hàng hóa, dịch vụ được chi tiêu bởi doanh nghiệp và chính phủ, không tính đến hàng hóa nhập khẩu và cần được đo lường mỗi năm để đạt độ tin cậy cao.

Vậy, tỷ lệ lạm phát chính là tỷ lệ % mức tăng của các chỉ số này.

Ví dụ: Năm 2019, chỉ số CPI của Mỹ là 200,000 USD, năm 2020, chỉ số CPI là 205,000 USD, ta nói, tỷ lệ lạm phát của Mỹ năm 2020 là 2.5%.

Ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế

Không phải lạm phát là xấu và lạm phát luôn tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, để lạm phát không gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế thì các quốc gia luôn muốn duy trì lạm phát ở mức tự nhiên, dưới 10%. Trong đó, các nước phát triển thì duy trì từ 2 – 5%, các nước đang phát triển thì đặt mục tiêu dưới 10%.

Lạm phát tự nhiên tác động tích cực đến nền kinh tế

Khi các quốc gia duy trì được tỷ lệ lạm phát như kỳ vọng, nó sẽ tác động tích cực đến nền kinh tế ở nhiều khía cạnh khác nhau.

Khi giá cả tăng đều và ổn định, nghĩa là lợi nhuận của doanh nghiệp cũng đang tăng lên, dẫn đến công nhân được trả lương cao hơn → kích thích tiêu dùng và vay nợ. Khi lạm phát duy trì ở mức tự nhiên, các doanh nghiệp sẽ vay nợ nhiều hơn để mở rộng sản xuất, từ đó giảm tỷ lệ thất nghiệp.

lam phat icattraining

Đối với chính phủ, một tỷ lệ lạm phát tự nhiên sẽ cho phép chính phủ kích thích các doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực kém ưu tiên nhờ mở rộng tín dụng, giúp phân phối lại thu nhập và các nguồn lực trong xã hội để đạt được những mục tiêu như kỳ vọng.

Lạm phát cao tác động tiêu cực đến nền kinh tế

  • Thứ nhất, lạm phát cao dẫn đến lãi suất sao.

Ta có: Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát

Nếu lạm phát tăng cao, và muốn duy trì lãi suất thực dương thì lãi suất danh nghĩa bắt buộc phải tăng lên. Khi lãi suất tăng, các doanh nghiệp sẽ e dè hơn trong vấn đề vay nợ, buộc lòng họ phải thu hẹp sản xuất kinh doanh, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, kinh tế suy thoái.

  • Thứ hai, lạm phát cao khiến cho thu nhập thực tế giảm xuống.

Tác động này có lẽ là rõ ràng nhất, trong khi thu nhập hay tiền lương của người dân không đổi mà lạm phát lại tăng cao sẽ dẫn đến thu nhập thực tế giảm. Nghĩa là năm trước, với mức lương 5 triệu một tháng, một người dân bình thường sẽ chi tiêu vừa đủ, năm nay, do lạm phát tăng cao, giá cả hàng hóa tăng cao, với mức lương không đổi 5 triệu đó, sức mua sẽ giảm xuống, đời sống người dân khó khăn hơn → mất lòng tin vào chính phủ.

  • Thứ ba, lạm phát cao dẫn đến bất bình đẳng trong thu nhập

Lạm phát cao sẽ khiến cho những người giàu có tích lũy hàng hóa, đẩy giá hàng hóa lên cao, điều này càng làm cho người nghèo không đủ tiền để mua hàng hóa, thậm chí là các mặt hàng thiết yếu nhất. Tình trạng này dẫn đến khoảng cách về thu nhập và mức sống giữa người nghèo, người giàu. Người giàu thì càng giàu, người nghèo lại càng nghèo → kinh tế, chính trị bất ổn.

  • Thứ tư, lạm phát cao gây áp lực nặng nề lên nợ chính phủ.

Khi lạm phát tăng cao, hậu quả lớn nhất chính là đồng nội tệ mất giá nghiêm trọng. Chính phủ sẽ trả nợ nước ngoài nhiều hơn so với bình thường. Một khi có áp lực trả nợ, chính phủ sẽ gia tăng thuế → ảnh hưởng đến đời sống người dân hoặc lựa chọn phương án in tiền → càng làm giảm giá trị đồng nội tệ, lạm phát tăng cao → bất ổn nền kinh tế, khó kiểm soát và ảnh hưởng đến bộ máy chính trị.

Một nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát bằng 0 hoặc giảm phát thì liệu sẽ tốt hơn?

Ngược lại với lạm phát, thì giảm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế bị giảm xuống. Bạn có đang nghĩ rằng, nếu giá cả hàng hóa giảm xuống, chúng ta sẽ mua được nhiều hàng hơn với số tiền không đổi, nhu cầu sử dụng hàng hóa, dịch vụ tăng lên, doanh nghiệp sẽ sản xuất nhiều hơn, dẫn đến kinh tế phát triển và người dân cũng có lợi?

Tuy nhiên, đó chỉ là lập luận sai lầm, tác động của giảm phát không những tiêu cực đến nền kinh tế mà nó còn tác động ở mức độ tương đương với một tỷ lệ lạm phát phi mã. Bởi vì khi giảm phát, giá cả hàng hóa giảm xuống, trong khi các chi phí sản xuất không đổi, doanh nghiệp sẽ không có lợi nhuận, hoặc không có khả năng chi trả lãi vay, dẫn đến thu hẹp sản xuất hoặc đóng cửa, khiến cho tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, dòng vốn tắc nghẽn, nền kinh tế trở nên bất ổn.

  • Mối quan hệ giữa lạm phát và chính sách tiền tệ

Chính vì thế, tất cả các nền kinh tế trên thế giới đều tìm mọi cách để kiểm soát và duy trì tỷ lệ lạm phát mục tiêu chứ không bao giờ triệt tiêu lạm phát.

Tác động của lạm phát đến nhà đầu tư

Một tỷ lệ lạm phát tự nhiên sẽ kích thích người dân đi đầu tư nhiều hơn, lựa chọn các kênh đầu tư mạo hiểm hơn, sinh lợi nhiều hơn.

Một ví dụ thực tế nhất mà các bạn có thể hình dung chính là nền kinh tế thế giới trong năm vừa qua hay đơn cử nhất là tại Việt Nam. Tác động của đại dịch Covid19, khiến Ngân hàng nhà nước giảm lãi suất để tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, phục hồi kinh tế, lãi suất cho vay giảm dẫn đến lãi suất tiền gửi giảm. Lãi suất tiền gửi giảm từ 12% xuống còn 6%, tỷ lệ lạm phát ở khoảng từ 3 – 4%, nghĩa là nếu nhà đầu tư lựa chọn kênh tiết kiệm ngân hàng thì lãi suất thực tế mà họ nhận được chỉ còn từ 2 – 3%, quá thấp. Chính vì thế, thay vì lựa chọn đầu tư vào các kênh có lãi suất thấp, nhà đầu tư sẽ tự tin hơn để lựa chọn các kênh khác hấp dẫn hơn.

Ngược lại, với một tỷ lệ lạm phát quá cao, mặc dù các hình thức đầu tư mạo hiểm sẽ mang lại tỷ suất sinh lời cao nhưng cũng không đủ để bù đắp sự mất giá do lạm phát mà mức độ rủi ro lại cao nên nhà đầu tư sẽ e dè hơn, đầu tư ít hơn.

Ảnh hưởng của lạm phát đến các forex trader

Lạm phát là một trong những yếu tố kinh tế quan trọng, không kém lãi suất, được các nhà đầu tư theo trường phái phân tích cơ bản quan tâm. Lạm phát ảnh hưởng đến sự tăng giảm giá trị của đồng tiền các quốc gia, nên làm biến động các cặp tỷ giá, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của nhà đầu tư trên thị trường ngoại hối. Cho nên, việc theo dõi lạm phát của các quốc gia, đặc biệt Hoa Kỳ là một phần không thể thiếu trong chiến lược phân tích của các trader.

Để theo dõi tỷ lệ lạm phát của một quốc gia, trader có thể theo dõi các công bố của chỉ số giá tiêu dùng CPI trên lịch kinh tế. Nếu CPI thực tế, cao hơn CPI dự kiến thì tỷ lệ lạm phát tăng, ngược lại, CPI thực tế thấp hơn CPI dự kiến thì tỷ lệ lạm phát giảm.

lam phat icattraining

Theo dõi và đánh giá tỷ lệ lạm phát sẽ giúp trader ra quyết định giao dịch chính xác hơn.

Kết luận

Lạm phát là không phải là một chủ đề hàn lâm, nên không chỉ liên quan đến các nhà phân tích, nhà kinh tế hay chính phủ mà lạm phát còn là mối quan tâm của tất cả những người dân và nhà đầu tư. Hy vọng với những gì mà IC&T Training đã chia sẻ trong bài viết lần này, các bạn đã có được những kiến thức cơ bản nhất về lạm phát, nếu bạn là một nhà đầu tư trên các thị trường tài chính thì các bạn càng cần phải nắm được tác động và mối quan hệ giữa lạm phát với các yếu tố kinh tế khác, theo dõi thường xuyên, từ đó, lựa chọn và xây dựng danh mục đầu tư sao cho phù hợp và hiệu quả nhất.

KG - Kiến thức tài chính